Cuộc thi tài năng diễn viên cải lương toàn quốc 2026 vừa khép lại tại Nhà hát Trần Hữu Trang, TP Hồ Chí Minh. Đây là một trong những hoạt động mang tính khởi động cho bài toán nguồn nhân lực của nghệ thuật truyền thống trong công nghiệp văn hóa. Trong hệ sinh thái văn hóa-nghệ thuật ở TP Hồ Chí Minh và Nam Bộ hiện nay, nghệ thuật truyền thống với vai trò chủ lực của cải lương đang đối diện với hàng loạt thách thức, nhưng cũng có không ít cơ hội mới được mở ra...
Lửa cải lương không bao giờ tắt
Trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ xưa nay, cải lương là "món ăn" không thể thiếu. Từ Sài Gòn-Chợ Lớn đến những vùng quê miền Tây, tiếng đờn kìm, đờn cò, nhịp song lang và những câu vọng cổ da diết đã làm rung động, kết nối sự đồng cảm của hàng triệu trái tim. Đêm xuống, rạp hát sáng đèn. Khán giả chen chân mua vé để xem những ngôi sao sân khấu như Thanh Nga, Út Trà Ôn, Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Diệp Lang... biểu diễn. Những đoàn hát rong xuôi ngược miền sông nước, mang theo cải lương như mang theo hồn vía của đất phương Nam.
Cải lương là di sản văn hóa tiêu biểu của đất và người Nam Bộ. Đó là sự kết tinh những tinh hoa của đờn ca tài tử, dân ca Nam Bộ và nghệ thuật sân khấu hiện đại; là nơi hội tụ của âm nhạc, văn học, diễn xuất, mỹ thuật sân khấu và triết lý sống của người Nam Bộ hào sảng, nghĩa tình. Tuy nhiên, sự phát triển của đời sống hiện đại và sự bùng nổ của các loại hình giải trí mới khiến cải lương dần mất đi vị trí độc tôn. Nhiều rạp hát đóng cửa, các đoàn nghệ thuật hoạt động cầm chừng, nghệ sĩ khó sống bằng nghề, sân khấu thưa vắng khán giả. Những khó khăn ấy là sự cộng hưởng từ áp lực thị trường và từ chính sân khấu cải lương. Thiếu kịch bản hay, cách dàn dựng cũ, thiếu vắng tác phẩm lớn phản ánh hơi thở đương đại. Nhiều vở diễn vẫn quanh quẩn với mô típ cũ, chưa tạo được ngôn ngữ sân khấu mới, hấp dẫn để tiếp cận lớp công chúng trẻ.
![]() |
| Sự kết hợp hài hòa các hình thức ca, múa và ứng dụng công nghệ hiện đại giúp cải lương tiếp cận thị hiếu công chúng trẻ tuổi. Ảnh: NGUYỄN LÊ |
Thực tế ấy một lần nữa lại bộc lộ rõ tại Cuộc thi tài năng diễn viên cải lương toàn quốc 2026. Sau 8 ngày tranh tài với 36 thí sinh đến từ 12 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, giới chuyên môn ghi nhận sự xuất hiện của lớp diễn viên trẻ giàu năng lượng, có nghề, có khát vọng làm mới cải lương. Tuy nhiên, nhiều tiết mục vẫn cứ “bổn cũ soạn lại”, cả về kịch bản, dàn dựng và diễn xuất. Một số tiết mục lại quá lệ thuộc vào đạo cụ, quần tượng sân khấu, khiến diễn viên thiếu không gian thể hiện chiều sâu nội tâm. Đó là dấu hiệu cho thấy cải lương đang thiếu một hệ sinh thái sáng tạo đủ mới và đủ mạnh: Thiếu kịch bản mới, thiếu cơ chế đặt hàng, thiếu đội ngũ tác giả trẻ, thiếu môi trường biểu diễn thường xuyên... Thực trạng ấy cũng cho thấy cải lương hiện nay đang có những khoảng trống rất lớn trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc đào tạo diễn viên hiện nay chủ yếu là kiểu truyền nghề nhỏ lẻ, manh mún, thiếu hệ thống giáo trình bài bản và nền tảng lý luận hiện đại.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào những đêm thi vừa qua, chúng ta vẫn thấy nhiều tín hiệu đáng mừng. Dù rất khó khăn nhưng cải lương chưa bao giờ tắt lửa. Vẫn có những người trẻ chọn đi vào con đường nhiều nhọc nhằn ấy. Vẫn có những nghệ sĩ bền bỉ giữ nghề, truyền nghề cho con cháu bằng tình yêu cải lương cháy bỏng và bầu nhiệt huyết sục sôi...
Cải lương trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa mà TP Hồ Chí Minh đang triển khai, nghệ thuật biểu diễn được xác định là một trong 8 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm. TP Hồ Chí Minh hướng tới mục tiêu xây dựng công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp hơn 7,2% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) vào năm 2030. Thành phố vừa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là Thành phố sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh, dấu mốc mở ra cơ hội lớn cho các ngành sáng tạo, trong đó có sân khấu truyền thống.
Trong hệ sinh thái ấy, cải lương không thể đứng ngoài cuộc. Cải lương là một di sản văn hóa, nguồn tài nguyên có tiềm năng, thế mạnh tạo ra giá trị mới. Thực tế cho thấy, những chương trình kết hợp cải lương với du lịch văn hóa, không gian phố đi bộ hay hoạt động trải nghiệm di sản đã và đang thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là du khách quốc tế. Nhiều nghệ sĩ trẻ cũng bắt đầu đưa cải lương lên các nền tảng số, tạo những video clip ngắn, MV vọng cổ hay chương trình giao lưu trực tuyến để tiếp cận khán giả trẻ. Đó là những hướng đi cần thiết trong thời đại công nghệ số.
TP Hồ Chí Minh đang có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm phát triển nghệ thuật cải lương trong công nghiệp văn hóa. Thành phố là nơi hội tụ đông đảo văn nghệ sĩ, có hệ thống nhà hát, trường đào tạo nghệ thuật, thị trường khán giả lớn và môi trường sáng tạo năng động. Đặc biệt, lãnh đạo thành phố đã xác định rõ phát triển văn hóa là nhiệm vụ chiến lược song hành với tăng trưởng kinh tế. Trong các hội nghị gần đây, đồng chí Trần Lưu Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh mục tiêu đưa TP Hồ Chí Minh trở thành trung tâm phát triển công nghiệp văn hóa đầu tiên của cả nước. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng những thương hiệu văn hóa mang bản sắc riêng. Và cải lương chính là một trong những thương hiệu giàu giá trị bản sắc.
Đường dài phải có ngựa hay
Câu chuyện về sức sống và tương lai của nghệ thuật truyền thống, trong đó có vai trò chủ lực của cải lương không phải đến bây giờ mới đặt ra, mà nó đã trở thành đề tài văn hóa được quan tâm từ nhiều thập kỷ qua. Trước khi công chúng tiếp cận với các nền tảng số, mô hình sân khấu xã hội hóa ở TP Hồ Chí Minh đã tiếp sức cho nghệ thuật cải lương phát triển, nhiều người trong giới nghệ sĩ cải lương “sống khỏe”, thậm chí giàu có nhờ làm nghề, nổi tiếng. Nhưng cũng chính từ môi trường ấy đã phát sinh một thực tế bất cập. Không ít nghệ sĩ cải lương phất lên là nhờ “chân ngoài dài hơn chân trong”, cải lương chỉ là cái cớ để họ lấn sân sang các loại hình khác. Sau khi nổi tiếng, người thì đi đóng phim, diễn kịch, người thì mải mê chạy game show... Đời sống cá nhân thì khá giả, nhưng chất cải lương trong máu thì cũng theo đó mà nhạt dần.
Theo giới chuyên môn, cải lương chỉ có thể đi xa, trở thành một thiết chế quan trọng của công nghiệp văn hóa khi nó được bảo tồn đúng cách và khai thác đúng hướng. Tất cả những thứ đổi mới, hiện đại chỉ là hình thức, phương tiện để tăng sức sống, sức hấp dẫn và chuyển tải hồn cốt cải lương. Vì vậy, phải nói không với kiểu biến cải lương thành sản phẩm giải trí dễ dãi, lai căng, “mì ăn liền”... Bởi, điều làm nên sức sống của cải lương suốt chiều dài lịch sử vùng đất Nam Bộ chính là chiều sâu nhân văn và bản sắc phong tục. Cải lương không đơn thuần là ca diễn. Nó là tâm trạng, là khí tiết, là thân phận con người trong những biến động lịch sử và đời sống xã hội. Nếu đánh mất hồn cốt ấy, cải lương sẽ chỉ còn là lớp vỏ sân khấu được hiện đại hóa bằng công nghệ mà thôi. Bởi vậy, đổi mới cải lương phải bắt đầu từ chiều sâu nghệ thuật, phải dựa vào bản sắc văn hóa. Việc vận động xây dựng kịch bản mới phản ánh hơi thở cuộc sống hôm nay phải giữ cho được ngôn ngữ thẩm mỹ cải lương. Mục tiêu của việc tìm kiếm, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là phải tạo ra lứa nghệ sĩ vừa có tâm, vừa giỏi nghề, vừa có tư duy sáng tạo hiện đại.
Trong bối cảnh hôm nay, nếu chỉ trông chờ vào cơ chế thị trường thuần túy, sân khấu cải lương khó có thể tồn tại bền vững. Đây là lĩnh vực cần sự đầu tư chiến lược của Nhà nước, nhất là trong đào tạo, bảo tồn và xây dựng thiết chế văn hóa. Không có nghệ sĩ tài năng, không có tác giả giỏi, thiếu lớp kế cận được đào tạo bài bản thì chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa khó thành hiện thực. Vì thế, những cuộc thi như Cuộc thi tài năng diễn viên cải lương toàn quốc 2026 vừa là hoạt động nghề nghiệp, vừa tạo môi trường phát hiện, bồi dưỡng và tạo động lực cho lực lượng kế thừa.
Bàn về vị thế và hướng đi cho cải lương trong công nghiệp văn hóa, nhiều người trong giới chuyên môn đồng quan điểm, cho rằng, điều cần nhất hiện nay là một hệ sinh thái đồng bộ cho cải lương. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách; các nhà hát là trung tâm sáng tạo; trường nghệ thuật là nơi đào tạo nguồn nhân lực; doanh nghiệp văn hóa tham gia đầu tư, quảng bá; còn nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo. Cần có cơ chế “đặt hàng đặc biệt” cho những tác phẩm cải lương có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Cần đầu tư những vở diễn lớn mang dấu ấn thời đại. Cần xây dựng không gian biểu diễn ổn định để cải lương hiện diện thường xuyên trong đời sống đô thị. Đồng thời, cần mạnh dạn đưa cải lương vào các hoạt động du lịch, lễ hội văn hóa để mở rộng công chúng. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số là yêu cầu cấp bách. Xây dựng kho dữ liệu số về cải lương, số hóa các vở diễn kinh điển, phát triển nền tảng biểu diễn trực tuyến, quảng bá cải lương trên mạng xã hội... là những việc cần được triển khai một cách bài bản.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ là phương tiện. Điều quyết định vẫn là chất lượng nghệ thuật và bản lĩnh văn hóa của người làm nghề. Người nghệ sĩ cải lương hôm nay bên cạnh giọng ca và kỹ năng diễn xuất, phải có bản lĩnh chính trị, tri thức văn hóa, tư duy hội nhập và trách nhiệm với di sản cha ông. Họ phải biết làm mới mình nhưng không được đánh mất cội nguồn. Phải biết bước vào đời sống hiện đại mà vẫn giữ được tinh thần, hồn cốt văn hóa Nam Bộ. Sức sống của cải lương không nằm ở những hiệu ứng sân khấu hào nhoáng, mà ở khả năng chạm tới trái tim công chúng. Khi một câu vọng cổ vẫn có thể khiến người nghe lặng đi giữa nhịp sống đô thị hối hả, khi những số phận trên sân khấu vẫn khiến công chúng đồng cảm và suy ngẫm thì cải lương vẫn là một phần tất yếu trong đời sống tinh thần của dân ta...


