Bảo vệ nguồn vốn di sản trong kinh tế sáng tạo

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Để hiện thực hóa mục tiêu “phát triển kinh tế di sản” được đặt ra tại Nghị quyết 80, nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần hoàn thiện quy định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ cộng đồng chủ thể, dẫn dắt sáng tạo và ngăn chặn chiếm dụng văn hóa.

Khi di sản trở thành nguồn vốn phát triển

Dù không nằm trong danh mục các ngành công nghiệp văn hóa, di sản lại chính là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà sáng tạo. TS. Lê Tùng Sơn, giảng viên về Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội cho rằng, dưới góc độ sở hữu trí tuệ, đó là tri thức truyền thống, được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế như với các bài thuốc dân gian, hoặc các biểu đạt văn hóa như sản phẩm thủ công, điệu múa, dân ca, mỹ thuật dân gian…

Thực tế cho thấy, các di sản này đang “sống” mạnh mẽ trong công nghiệp văn hóa: chất liệu dân gian hiện diện trong điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật ứng dụng; nhiều kỹ nghệ truyền thống được tái sinh trong các sản phẩm có giá trị gia tăng cao...

Di sản văn hóa các dân tộc thiểu số - nguồn lực cho sáng tạo

Di sản văn hóa trở thành nguồn cảm hứng cho sáng tạo. Ảnh: Th.Nguyên

Trước xu thế này, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu chuyển động tư duy quan trọng về vai trò của di sản văn hóa. Nghị quyết nhấn mạnh “phát triển kinh tế di sản”, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đóng góp 7% GDP vào năm 2030; “nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa; lấy di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh”.

Bên cạnh ý nghĩa tinh thần, di sản còn có khả năng kích thích đổi mới sáng tạo và hình thành lợi thế cạnh tranh. Đây là dư địa lớn của Việt Nam - quốc gia sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú, từ hệ thống di tích, làng nghề, nghệ thuật dân gian đến tri thức bản địa, biểu tượng văn hóa gắn với cộng đồng và vùng đất...

Nhưng để di sản trở thành nguồn vốn phát triển kinh tế, cần quan tâm tới sở hữu trí tuệ. Bởi khi giá trị văn hóa được đưa vào thị trường nhưng không có cơ chế bảo hộ, nguồn lực ấy rất dễ bị khai thác mà không mang lại lợi ích trở lại cho cộng đồng sáng tạo ra nó.

Hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ di sản phi vật thể

Cơ hội phát triển kinh tế di sản đang mở ra, đi kèm nhiều thách thức, trong đó có nguy cơ chiếm dụng văn hóa. Theo bà Nguyễn Tú Hằng, Giám đốc Hanoi Grapevine, trong môi trường số, di sản đang bị biến thành “kho dữ liệu mở” dễ dàng tiếp cận, sao chép và tái sử dụng. Họa tiết thổ cẩm, biểu tượng mỹ thuật cổ, chất liệu dân gian hay tri thức bản địa có thể bị đưa vào các sản phẩm thương mại và thu về lợi nhuận khổng lồ mà không cần hỏi ý kiến cộng đồng hay chia sẻ lợi ích với chủ thể di sản. Ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và chiếm dụng văn hóa trở nên mong manh.

Đáng lo ngại hơn là xu hướng “độc quyền hóa” những giá trị vốn thuộc về cộng đồng. Nếu một cá nhân học kỹ thuật chế tác từ nghệ nhân và có một số cải tiến, rồi đăng ký độc quyền kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm ấy, cộng đồng thực hành lâu đời có nguy cơ bị hạn chế quyền tiếp tục sản xuất. Nghịch lý này trực tiếp đe dọa sự tồn tại của di sản.

Ngay trong quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp và chủ thể sở hữu di sản, thiếu vắng cơ chế bảo hộ bản quyền cũng đang làm xói mòn động lực sáng tạo. Nghệ sĩ thị giác Trần Thảo Miên - sáng lập Collective Sonson dẫn chứng: một mẫu thiết kế riêng bị sao chép tràn lan ngay sau khi ra mắt và bán tại làng nghề với giá rẻ hơn, làm xói mòn giá trị sáng tạo. Thực trạng này tiếp tục đẩy các làng nghề vào cuộc đua phá giá, thay vì cạnh tranh bằng chất lượng và câu chuyện thương hiệu.

4.jpg

Phát triển kinh tế di sản đang mở ra nhiều cơ hội, đi kèm không ít thách thức. Ảnh: Th.Nguyên

Để phát triển kinh tế di sản một cách bền vững, TS. Lê Tùng Sơn cho biết, theo kinh nghiệm quốc tế, bảo hộ sở hữu trí tuệ với tri thức truyền thống đang có hai hướng: ghi nhận quyền tinh thần của cộng đồng và thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế công bằng. Một số quốc gia, có nhắc đến nguy cơ lạm dụng tri thức truyền thống, đặc biệt là biểu đạt văn hóa và có quy định pháp luật về trả phí công bằng, nhưng việc xác định mức chi trả, trả cho ai… vẫn là bài toán bỏ ngỏ.

Theo ThS. Luyện Thị Thùy Nhung, Khoa Luật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tri thức dân gian, văn hóa bản địa và các hình thái di sản văn hóa phi vật thể chính là hạt nhân sáng tạo cấu thành nên các sản phẩm công nghiệp văn hóa, mang lại giá trị khác biệt và lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Do đó, việc hoàn thiện các quy định cụ thể về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với văn hóa dân gian (folklore) và tri thức truyền thống tại Việt Nam là điều tất yếu để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nghệ nhân và cộng đồng chủ thể.

Luật Sở hữu trí tuệ 2025 có nhiều đổi mới về quản trị tài sản trí tuệ và công nghệ số. Tuy nhiên, khi áp dụng với tri thức dân gian, tài nguyên bản địa, hay di sản gắn với cộng đồng, vắng bóng “tư cách pháp lý” của cộng đồng, thiếu tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản vô hình mang tính di sản.

ThS. Luyện Thị Thùy Nhung góp ý, cần hoàn thiện khung pháp lý bảo hộ di sản phi vật thể và tri thức truyền thống theo hướng xác lập rõ quyền của cộng đồng chủ thể, trong đó đặc biệt quan trọng là xây dựng cơ chế “pháp nhân đại diện cộng đồng”. Các đại diện hợp pháp có đủ tư cách pháp lý đứng ra đàm phán, ký kết các hợp đồng hợp tác kinh doanh, định giá tài sản vô hình khi "góp vốn" với doanh nghiệp.

Một số chuyên gia cũng cho rằng, trong thế giới phẳng, di sản cần một “hộ chiếu” để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, đi kèm với việc định danh mã tài sản. Điều này giúp các nhà sáng tạo có thể truy xuất nguồn gốc, thực hiện nghĩa vụ chi trả phí bản quyền một cách minh bạch.

Khi quyền được xác lập và lợi ích được phân phối minh bạch, di sản mới có thể chuyển hóa thành nguồn vốn phát triển, giúp bản sắc được gìn giữ và đóng góp cho sự phát triển kinh tế sáng tạo bền vững.


Nguồn:Đại biểu nhân dân Copy link

TIN LIÊN QUAN