Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, vốn, tài sản trí tuệ và thị trường, tạo nền tảng để văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế giàu tiềm năng.
Kết nối văn hóa với thị trường
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045, đòi hỏi hệ thống thể chế phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo, tạo động lực cho thị trường sáng tạo phát triển.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoàn thiện được kỳ vọng sẽ cụ thể hóa chủ trương này, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, vốn, tài sản trí tuệ và thị trường, qua đó khơi thông nguồn lực xã hội cho các ngành công nghiệp văn hóa.
Tại Việt Nam, nhiều lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa như điện ảnh, quảng cáo, xuất bản, du lịch và các hoạt động sáng tạo đã được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một đạo luật điều chỉnh công nghiệp văn hóa với tư cách một ngành kinh tế liên ngành, vận hành trên nền tảng hệ sinh thái sáng tạo, chuỗi giá trị và đổi mới sáng tạo.
Từ thực tiễn này, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được đánh giá là yêu cầu khách quan và cấp thiết. Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang khẩn trương xây dựng dự án Luật theo quy trình rút gọn, dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026.
Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật là "chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế". Đây được xem là hướng đi quan trọng nhằm biến nguồn tài nguyên văn hóa phong phú thành nguồn lực phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo thêm động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Hoàn thiện thể chế được xem là nền tảng để mở rộng thị trường công nghiệp văn hóa.
Dự án Luật hướng tới ba mục tiêu lớn: Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế; kết nối các khâu trong chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; đồng thời lan tỏa bản sắc, thương hiệu Việt Nam và sức mạnh mềm quốc gia.
Dự thảo gồm 9 chương, 60 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách: phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; phát triển nhân lực, nhân tài; hạ tầng công nghiệp văn hóa; phát triển thị trường; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư.
Nhiều chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là bước đi cần thiết và kịp thời nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, hoàn thiện hành lang pháp lý và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, đầu tư và phát triển thị trường.
Theo TS Nguyễn Thị Quý Phương - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí - Truyền thông, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Tư vấn QP Việt Nam, dự thảo đã thể hiện bước chuyển quan trọng từ cách tiếp cận quản lý hoạt động văn hóa theo từng lĩnh vực sang nhìn nhận công nghiệp văn hóa như một hệ thống kinh tế dựa trên sáng tạo, tài nguyên văn hóa, công nghệ và tài sản trí tuệ.
Theo bà, việc xác lập chuỗi giá trị từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng đến tái đầu tư là hướng tiếp cận phù hợp, giúp kết nối chính sách văn hóa với các chính sách về thị trường, đầu tư, tài chính, công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, TS Nguyễn Thị Quý Phương cho rằng dự thảo vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng giảm tư duy quản lý tiền kiểm hành chính, tăng tính kiến tạo thị trường. Đồng thời, cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa bảo tồn giá trị gốc của di sản và khai thác thương mại các sản phẩm phái sinh từ di sản, qua đó vừa bảo đảm giá trị văn hóa, vừa tạo dư địa để di sản trở thành nguồn lực cho phát triển.
Mở khóa nguồn lực sáng tạo
Từ góc nhìn của thị trường sáng tạo, đạo diễn Việt Tú đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ những rào cản đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm văn hóa trong nước.
Ông cho rằng cần có chính sách bảo hộ sản phẩm nội địa song song với quản lý IP văn hóa nước ngoài, trong đó có thể nghiên cứu việc thiết lập hạn ngạch nhập khẩu IP văn hóa ngoại.
"Nếu không có chính sách bảo hộ thì giống như một đội bóng, nhập khẩu rất nhiều cầu thủ ngoại để đạt thành tích ngắn hạn nhưng sau đó không sở hữu một nền công nghiệp sản xuất nội dung đúng nghĩa", ông nhấn mạnh.
Theo đạo diễn Việt Tú, nâng cao năng lực tự chủ sản xuất nội dung trong nước là điều kiện quan trọng để hướng tới xuất khẩu và tăng cường đối ngoại văn hóa.

Công nghiệp văn hóa được kỳ vọng mở rộng không gian cho các hoạt động sáng tạo và kinh doanh.
Ông cũng đề xuất bảo tồn các di sản công nghiệp như nhà xưởng, khu tập thể thời bao cấp, cụm cảng cũ… để phát triển không gian sáng tạo. Thay vì phá bỏ để xây mới, những không gian này có thể được chuyển đổi thành các trung tâm văn hóa, không gian sáng tạo (City Hub), vừa lưu giữ "hồi ký đô thị", vừa tạo thêm địa điểm cho các hoạt động sáng tạo.
Một vấn đề khác được đạo diễn Việt Tú nhấn mạnh là khả năng tiếp cận vốn. Ông cho rằng cần sớm thể chế hóa cơ chế định giá tài sản trí tuệ và bản quyền tác giả, tạo cơ sở pháp lý để những tài sản này có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm tại ngân hàng. Khi đó, các nhà sáng tạo và doanh nghiệp giải trí sẽ có thêm nguồn lực để triển khai những dự án quy mô lớn.
Bên cạnh đó, ông đề xuất xây dựng bộ chỉ số đo lường (KPI) chuyên biệt cho từng lĩnh vực văn hóa, kết hợp các tiêu chí định tính và định lượng phù hợp với đặc thù của từng ngành.
Theo ông, việc áp dụng một bộ tiêu chí chung có thể khiến doanh nghiệp và cơ quan quản lý gặp khó khăn trong đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như giá trị đầu ra của sản phẩm.
Nếu các chuyên gia tập trung vào việc thiết kế một hành lang pháp lý phù hợp, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội lưu ý đến một yêu cầu quan trọng sau khi Luật được ban hành đó là phải nhanh chóng chuyển các quy định thành những cơ chế cụ thể và có khả năng áp dụng trong thực tế.
Theo ông cần ưu tiên đơn giản hóa thủ tục, triển khai các cơ chế ưu đãi, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn và các kênh hỗ trợ để người sáng tạo, doanh nghiệp cùng các chủ thể tham gia công nghiệp văn hóa có điều kiện phát triển.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn đồng tình rằng nguồn lực tài chính là vấn đề cần được giải quyết nhưng cho rằng yếu tố quan trọng hơn là niềm tin.
Theo ông khi người sáng tạo tin rằng sản phẩm do mình tạo ra được pháp luật bảo vệ, doanh nghiệp tin rằng việc tham gia thị trường văn hóa có thể mang lại lợi ích. Còn nhà đầu tư tin rằng quyền và lợi ích của mình được bảo đảm khi đó mới có thể tạo ra sự bùng nổ trong phát triển công nghiệp văn hóa.
Niềm tin này theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn phải được xây dựng trên một thể chế và hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch, hiệu quả. Khi nền tảng đó được thiết lập, các nhà sáng tạo, doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ có thêm động lực tham gia thị trường từ đó giúp công nghiệp văn hóa chuyển từ tiềm năng thành một lĩnh vực kinh tế thực sự.


